Hỏi - đáp về thuế Thu nhập cá nhân

Cập nhật: 02:15 PM, 18/04/2014

FinancePlus.vn tập hợp một số thắc về thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đã được Bộ Tài chính trả lời mới đây.

 

 

Câu 1: Công ty tôi hiện đang ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ ngày 25/03/2013 với người lao động đã về hưu. Hiện tại, người lao động có khoản lương hưu được chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội là 5 triệu đồng/tháng và Công ty thanh toán tiền lương hàng tháng cho người lao động này là 15 triệu đồng/tháng. Công ty tính thuế TNCN cho người lao động này theo biểu lũy tiến từng phần và giảm trừ bản thân người lao động là 9 triệu/tháng. Công ty tính như vậy đã đúng chưa và cuối năm người lao động có được ủy quyền cho Công ty quyết toán thay thuế TNCN không hay phải trực tiếp đi quyết toán tại cơ quan thuế?

Khi đã về hưu thì tiền của cá nhân nhận được từ Quỹ bảo hiểm xã hội được miễn thuế theo quy định của điều 4 Luật thuế TNCN.

Về hưu rồi vẫn đi làm được thì cá nhân này vẫn được tính giá trị gia tăng cho bản thân anh ta và con nhỏ (nếu có, kể cả có thêm) dưới 18 tuổi, hoặc trên 18 tuổi vẫn còn đi học,… cha mẹ già anh ta phải nuôi dưỡng.

Nếu anh ta chọn DN của bạn là nơi làm việc chính và đăng ký nộp thuế TNCN tại đây, có mã số thuế cá nhân thì cũng được uỷ quyền quyết toán thuế trong 2 trường hợp sau :

+ Chỉ có thu nhập tại đây, hoặc/và có thêm thu nhập vãng lai về tiền công tại nơi khác và ước tính phần vãng lai đó không quá 10 triệu đồng/tháng (dưới 120 triệu/năm);

+ Chỉ có thu nhập tại, hoặc/và có thêm tiền cho thuê nhà mà tiền doanh thu cho thuê không vượt quá 20 triệu đồng/tháng đã khai nộp thuế tại nơi có nhà cho thuê.

Câu 2: Trường hợp cá nhân có phát sinh thu nhập trong năm 2013 nhưng mức thu nhập chưa thuộc thu nhập chịu thuế TNCN (thu nhập thấp)và thực tế là trong năm 2013 Công ty cũng không khấu trừ thuế TNCN. Nay cá nhân yêu cầu Công ty cấp Chứng từ khấu trừ thuế TNCN thể hiện số tiền thuế khấu trừ = 0. Đòi hỏi này của cá nhân có chính đáng và hợp pháp không?

Theo quy định tại Thông tư của Bộ Tài chính số 84/2008, số 62/2009, số 02/2010, số 113/2011 và nay là Thông tư số 111/2013/TT-BTC thì cơ quan nơi có cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động có nghĩa vụ thực hiện tổ chức cho cá nhân kê khai đăng ký thuế TNCN, đăng ký kê khai gia cảnh,… , để cá nhân đó được cấp mã số thuế cá nhân.

Khi có thu nhập đến mức phải nộp thuế thì phải thực hiện khấu trừ thuế, cuối năm đưa họ vào danh sách khai quyết toán thuế. Trường hợp thu nhập chưa đến mức phải chịu thuế thì số tiền thuế sẽ là 0. Kết thúc năm, nếu cá nhân có nhu cầu được cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN (mẫu CTT56) thì cơ quan trả thu nhập có trách nhiệm cấp cho họ. Trên chứng từ khấu trừ ghi rõ tổng số thu nhập phát sinh, tổng số thuế khấu trừ (bằng không), tổng số thu nhập còn lại đúng bằng số tiền cơ quan đã trả là phù hợp.

Việc cá nhân có nhu cầu cấp giấy có thể liên quan đến một số việc như: quyết toán thuế tại địa phương khi anh ta có nhà cho thuê hoặc kinh doanh trên địa bàn, hoặc cần cái giấy đó xuất trình cho sứ quán nước ngoài khi làm thủ tục visa,… Do đó, Bạn cần báo cáo cáo lãnh đạo đơn vị giúp đỡ cho đồng nghiệp của mình.

Câu 3: Công ty tôi thuê lao đồng thời vụ ký hợp đồng dưới 3 tháng. thu nhập mỗi tháng/lao động trên mức giảm trừ cho bản thân, nhưng cá nhân có mã số thuế và cam kết chỉ có thu nhập tại 1 nơi và tổng thu nhập cả năm chưa đến mức đóng thuế. Vậy xin hỏi tôi có tạm thời chưa khấu trừ 10% thuế của họ không?

Theo quy định tại Thông tư số 111, Thông tư số 156 của Bộ Tài chính thì những người ký Hợp đồng lao động với thời hạn từ 3 tháng trở lên sẽ thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần (thuế luỹ tiến theo bậc, sau khi tạm tính giảm trừ gia cảnh).

Đối với những người ký Hợp đồng dưới 3 tháng: Quy định tại điểm (i) thuộc khoản 1, điều 25 Thông tư số 113/2013 thì thực hiện khấu trừ 10% trên tổng mức chi trả 2 triệu đồng/lần. Trường hợp các nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc diện khấu trừ theo tỷ lệ này nhưng ước tính tổng thu nhập chịu thuế của cá nhân (cả năm) sau khi trừ gia cảnh mà chưa đến mức chịu thuế thì cá nhân có thu nhập đó làm bản cam kết (Mẫu 23/BCK ban hành kèm Thông tư  số 156), ghi đầy đủ thông tin cá nhân và mã số thuế cá nhân gửi tổ chức chi trả thu nhập để làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế. 

Với cá nhân này, doanh nghiệp của bạn vẫn phải tổng hợp vào danh sách để nộp cho cơ quan thuế để theo dõi trên hệ thống quản lý.

Theo mof.gov.vn



® Thiet ke web: V&A Vietnam © Bản quyền TapChiThue.com
® Ghi rõ "Nguồn: TapChiThue.com" khi phát hành lại thông tin từ website này